<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng &#8211; Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</title>
	<atom:link href="https://gomthienviet.vn/lang-gom-co-truyen-bat-trang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://gomthienviet.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 06 Nov 2019 15:39:28 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9</generator>

<image>
	<url>https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2023/08/cropped-Logo-Thien-Viet-dang-32x32.jpg</url>
	<title>Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng &#8211; Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</title>
	<link>https://gomthienviet.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Gốm Bát Tràng &#8211; Quy trình tạo nên nghệ thuật.</title>
		<link>https://gomthienviet.vn/gom-bat-trang-quy-trinh-tao-nen-nghe-thuat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Gốm Thiên Việt]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 31 Oct 2019 15:38:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Bát Tràng]]></category>
		<category><![CDATA[Làng Bát Tràng]]></category>
		<category><![CDATA[Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://battrangmall.vn/?p=11053</guid>

					<description><![CDATA[<p>Gốm Bát Tràng là tên gọi chung cho các loại đồ gốm Việt Nam được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát (鉢) là bát ăn của nhà sư (tiếng Phạn là Patra), chữ Tràng (場, còn đọc là Trường) nghĩa là &#8220;cái sân lớn&#8221;, là mảnh đất dành riêng cho chuyên môn. Theo các cụ già trong làng kể lại, chữ Bát bên trái</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn/gom-bat-trang-quy-trinh-tao-nen-nghe-thuat/">Gốm Bát Tràng &#8211; Quy trình tạo nên nghệ thuật.</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn">Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://gomthienviet.vn"><b>Gốm Bát Tràng</b></a> là tên gọi chung cho các loại đồ <a title="Gốm Việt Nam" href="https://gomthienviet.vn">gốm Việt Nam</a> được sản xuất tại làng Bát Tràng, thuộc <a title="Bát Tràng" href="https://gomthienviet.vn">xã Bát Tràng</a>, huyện <a title="Gia Lâm" href="https://gomthienviet.vn">Gia Lâm</a>, <a title="Hà Nội" href="https://gomthienviet.vn">Hà Nội</a>. Theo nghĩa Hán Việt, chữ Bát (鉢) là bát ăn của nhà sư (tiếng Phạn là <i>Patra</i>), chữ Tràng (場, còn đọc là Trường) nghĩa là &#8220;cái sân lớn&#8221;, là mảnh đất dành riêng cho chuyên môn. Theo các cụ già trong làng kể lại, chữ Bát bên trái là bộ &#8220;Kim-金&#8221; ví với sự giàu có, &#8220;本-bản&#8221; có nghĩa là cội nguồn, nguồn gốc. Dùng chữ Bát như vậy để khuyên răn con cháu &#8220;có nghề có nghiệp thì cũng không được quên gốc&#8221;. Hiện nay, tại các đình, đền và chùa ở Bát Tràng đều vẫn còn các chữ Bát Tràng được viết bằng chữ Hán là 鉢場.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://gomthienviet.vn"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11054" src="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang.jpeg" alt="Gốm Bát Tràng tinh tế từ đường nét đến chất men" width="260" height="391" srcset="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang.jpeg 260w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang-199x300.jpeg 199w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang-16x24.jpeg 16w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang-24x36.jpeg 24w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/260px-Chan_den_gom_lam_Bat_Trang-32x48.jpeg 32w" sizes="(max-width: 260px) 100vw, 260px" /></a><a href="https://gomthienviet.vn"><em><span style="font-size: 90%;">Chân đèn gốm tráng men lam, một loại men nổi tiếng của Bát Tràng (ảnh chụp tại </span></em><em><span style="font-size: 90%;">Bảo tàng lịch sử Việt Nam)</span></em></a></p>
<p><b>Xã Bát Tràng</b> (社鉢場) là tên gọi từ trước năm 1945 của làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, người dân thôn Bát Tràng di cư từ làng Bồ Bát (xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình), theo vua Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long.</p>
<p>Khi những người dân Bạch Bát đến vùng đất bồi bên bờ sông Hồng, Họ đã lập phường làm nghề gốm; lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi là Bạch Thổ Phường, sinh sống chủ yếu bằng nghề làm gốm sứ, buôn bán và làm quan. Thời nhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An. Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay.</p>
<p>Năm 1958, nhà nước thực hiện đào sông Bắc Hưng Hải &#8211; Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải làm thuỷ lợi tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng rộng lớn của 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, tạo ra thêm một con đường mới đi vào xã Bát Tràng, vì vậy từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồng đến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua sông Hồng rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km).</p>
<p>Ngày nay việc đến Bát Tràng rất thuận lợi vì từ năm 2006, công ty vận tải Hà Nội đã mở tuyến xe buýt 47 về đến Chợ Gốm Làng cổ Bát Tràng là điểm cuối bến.</p>
<h4><span id="Quy_trình_phát_triển_gốm_sứ_bát_tràng" class="mw-headline">Quy trình phát triển <a href="https://gomthienviet.vn">gốm sứ bát tràng</a>: </span></h4>
<p>Để làm ra đồ gốm người thợ gốm Bát Tràng phải qua các khâu chọn, xử lý và pha chế đất, tạo dáng, tạo hoa văn, phủ men, và cuối cùng là nung sản phẩm. Kinh nghiệm truyền đời của dân làng gốm Bát Tràng là &#8220;Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò&#8221;.</p>
<p>Người thợ gốm Bát Tràng quan niệm hiện vật gốm không khác nào một cơ thể sống, một vũ trụ thu nhỏ trong đó có sự kết hợp hài hòa của Ngũ hành (五行) là kim (金), mộc (木), thuỷ (水), hoả (火) và thổ (土). Sự phát triển của nghề nghiệp được xem như là sự hanh thông của Ngũ hành mà sự hanh thông của Ngũ hành lại nằm trong quá trình lao động sáng tạo với những quy trình kĩ thuật chặt chẽ, chuẩn xác.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://gomthienviet.vn"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-10376" src="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng.png" alt="Gốm Bát Tràng với nhiều sản phẩm đặc sắc, mang tính nghệ thuật rất cao." width="250" height="333" srcset="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng.png 250w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng-225x300.png 225w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng-18x24.png 18w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng-27x36.png 27w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/2019/10/Tượng-Nghê-Gốm-Sứ-thời-Cảnh-Hưng-36x48.png 36w" sizes="(max-width: 250px) 100vw, 250px" /><em><span style="font-size: 90%;">Tượng nghê bằng gốm do thợ gốm làng Bát Tràng làm thời Cảnh Hưng.</span></em></a></p>
<h3><span id="Quá_trình_tạo_cốt_gốm" class="mw-headline">A. Quá trình tạo cốt gốm Bát Tràng:</span></h3>
<h4><span id="Chọn_đất" class="mw-headline">1. Chọn đất:</span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Điều quan trọng đầu tiên để hình thành nên các lò gốm là nguồn đất sét làm gốm. Những trung tâm sản xuất gốm thời cổ thường là sản xuất trên cơ sở khai thác nguồn đất tại chỗ. Làng gốm Bát Tràng cũng vậy, sở dĩ dân làng Bồ Bát chọn khu vực làng Bát Tràng hiện nay làm đất định cư phát triển nghề gốm vì trước hết họ đã phát hiện ra mỏ <a class="new" title="Đất sét trắng (trang chưa được viết)" href="https://gomthienviet.vn">đất sét trắng</a> ở đây. Đến thế kỉ 18, nguồn đất sét trắng tại chỗ đã cạn kiệt nên người dân Bát Tràng buộc phải đi tìm nguồn đất mới. Không giống như tổ tiên, dân Bát Tràng vẫn định cư lại ở các vị trí giao thông thuận lợi và thông qua dòng sông bến cảng, dùng thuyền toả ra các nơi khai thác các nguồn đất mới. Từ Bát Tràng ngược sông Hồng lên vùng Sơn Tây, Phúc Yên, rẽ qua sông Đuống, xuôi dòng Kinh Thầy đến Đông Triều, khai thác đất sét trắng ở Hồ Lao, Trúc Thôn.</p>
<p style="padding-left: 40px;"><i>Đất sét Trúc Thôn có độ dẻo cao, khó tan trong nước, hạt mịn, màu trắng xám, độ chịu lửa ở khoảng 1650°C. Thành phần hoá học (tính trung bình theo % trọng lượng) của đất sét Trúc Thôn như sau: Al<sub>2</sub>0<sub>3</sub>: 27,07; Si0<sub>2</sub>: 55,87; Fe<sub>2</sub>0<sub>3</sub> 1,2; Na<sub>2</sub>O 0,7; CaO 2,57; MgO 0,78; K<sub>2</sub>O: 2,01; Ti0<sub>2</sub>: 0,81. Tuy là loại đất tốt được người thợ gốm Bát Tràng ưa dùng nhưng sét Trúc Thôn cũng có một số hạn chế như chứa hàm lượng ôxít sắt khá cao, độ ngót khi sấy khô lớn và bản thân nó không được trắng.</i></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://gomthienviet.vn"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-7893" src="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm.jpg" alt="Gốm Bát Tràng được làm từ loại đất sét dỏe, trắng, mịn." width="799" height="533" srcset="https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm.jpg 799w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-510x340.jpg 510w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-300x200.jpg 300w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-768x512.jpg 768w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-24x16.jpg 24w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-36x24.jpg 36w, https://gomthienviet.vn/wp-content/uploads/1970/01/Đất-Sét-làm-Gốm-48x32.jpg 48w" sizes="(max-width: 799px) 100vw, 799px" /><em><span style="font-size: 90%;">Quy trình luyện đất để làm gốm cũng rất công phu, nhiều quy trình nghiêm ngặt, tỉ mỉ.</span></em></a></p>
<h4>2. <span id="Xử_lý,_pha_chế_đất" class="mw-headline">Xử lý, pha chế đất: </span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Trong đất nguyên liệu thường có lẫn tạp chất, ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của từng loại gốm khác nhau mà có thể có những cách pha chế đất khác nhau để tạo ra sản phẩm phù hợp. Ở Bát Tràng, phương pháp xử lý đất truyền thống là xử lý thông qua ngâm nước trong hệ thống bể chứa, gồm 4 bể ở độ cao khác nhau.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Bể thứ nhất ở vị trí cao hơn cả là &#8220;bể đánh&#8221; dùng để ngâm đất sét thô và nước (thời gian ngâm khoảng 3-4 tháng). Đất sét dưới tác động của nước sẽ bị phá vỡ kết cấu hạt nguyên thuỷ của nó và bắt đầu quá trình phân rã (dân gian gọi là ngâm lâu để cho đất nát ra). Khi đất đã &#8220;chín&#8221; (cách gọi dân gian), đánh đất thật đều, thật tơi để các hạt đất thực sự hoà tan trong nước tạo thành một hỗn hợp lỏng. Sau đó tháo hỗn hợp lỏng này xuống bể thứ hai gọi là &#8220;bể lắng&#8221; hay &#8220;bể lọc&#8221;. Tại đây đất sét bắt đầu lắng xuống, một số tạp chất (nhất là các chất hữu cơ) nổi lên, tiến hành loại bỏ chúng.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Sau đó, múc hồ loãng từ bể lắng sang bể thứ ba gọi là &#8220;bể phơi&#8221;, người Bát Tràng thường phơi đất ở đây khoảng 3 ngày, sau đó chuyển đất sang bể thứ tư là &#8220;bể ủ&#8221;. Tại bể ủ, ôxyt sắt (Fe<sub>2</sub>O<sub>3</sub>) và các tạp chất khác bị khử bằng phương pháp lên men (tức là quá trình vi sinh vật hoá khử các chất có hại trong đất). Thời gian ủ càng lâu càng tốt.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Nhìn chung, khâu xử lý đất của người thợ gốm Bát Tràng thường không qua nhiều công đoạn phức tạp. Trong quá trình xử lý, tuỳ theo từng loại đồ gốm mà người ta có thể pha thêm cao lanh ở mức độ nhiều ít khác nhau.</p>
<h4>3. <span id="Tạo_dáng" class="mw-headline">Tạo dáng: </span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Phương pháp tạo dáng cổ truyền của người làng Bát Tràng là làm bằng tay trên bàn xoay. Trong khâu tạo dáng, người thợ gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến lối &#8220;vuốt tay, be chạch&#8221; trên bàn xoay, trước đây công việc này thường vẫn do phụ nữ đảm nhiệm. Thợ ngồi trên một cái ghế cao hơn mặt bàn rồi dùng chân quay bàn xoay và tay vuốt đất tạo dáng sản phẩm. Đất trước khi đưa vào bàn xoay được vò cho thật nhuyễn, cuốn thành thoi rồi ném (&#8220;bắt nẩy&#8221;) để thu ngắn lại. Sau đó người ta đặt vào mà giữa bàn xoay, vỗ cho đất dính chặt rồi lai nén và kéo cho đất nhuyễn dẻo mới &#8220;đánh cử&#8221; đất và &#8220;ra hương&#8221; chủ yếu bằng hai ngón tay bên phải. Sau quá trình kéo đất bằng tay và bằng sành tới mức cần thiết người thợ sẽ dùng sành dan để định hình sản phẩm. Sản phẩm &#8220;xén lợi&#8221; và &#8220;bắt lợi&#8221; xong thì được cắt chân đưa ra đặt vào &#8220;bửng&#8221;. Việc phụ nữ sử dụng bàn xoay vuốt tạo dáng ban đầu của sản phẩm là công việc bình thường phổ biến ở mỗi lò gốm cổ Việt Nam (không chỉ riêng Bát Tràng) nhưng lại rất xa lạ với một số người thợ gốm phương Tây. Tuy thế, kĩ thuật này đã mất dần và hiện nay không còn mấy người thợ gốm Bát Tràng còn có thể làm được công việc này nữa. &#8220;Be chạch&#8221; cũng là một hình thức vuốt sản phẩm trên bàn xoay nhẹ đà và chủ yếu do thợ đàn ông đảm nhiệm.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Người thợ &#8220;đắp nặn&#8221; gốm là người thợ có trình độ kĩ thuật và mĩ thuật cao. Có khi họ đắp nặn một sản phẩm gốm hoàn chỉnh, nhưng cũng có khi họ đắp nặn từng bộ phận riêng rẽ của một sản phẩm và sau đó tiến hành chắp ghép lại. Hiện nay theo yêu cầu sản xuất gốm công nghiệp hay mĩ nghệ, nghệ nhân gốm có thể đắp nặn một sản phẩm mẫu để đổ khuôn thạch cao phục vụ cho việc sản xuất hàng loạt.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Việc tạo hình sản phẩm gốm theo khuôn in (khuôn thạch cao hay khuôn gỗ) được tiến hành như sau: đặt khuôn giữa bàn xoay, ghim chặt lại, láng lòng khuôn rồi ném mạnh đất in sản phẩm giữa lòng khuôn cho bám chắc chân, vét đất lên lợi vành, quay bàn xoay và kéo cán tới mức cần thiết đề tạo sản phẩm. Ngày nay người làng gốm Bát Tràng sử dụng phổ biến kĩ thuật &#8220;đúc&#8221; hiện vật. Muốn có hiện vật gốm theo kĩ thuật đúc trước hết phải chế tạo khuôn bằng thạch cao. Khuôn có cấu tạo từ đơn giản đến phức tạp. Loại đơn giản là khuôn hai mang, loại phức tạp thì thường cớ nhiều mang, tuỳ theo hình dáng của sản phẩm định tạo. Cách tạo dáng này trong cùng một lúc có thể tạo ra hàng loạt sản phẩm giống nhau, rất nhanh và giản tiện. Ngoài ra người ta còn dùng phương pháp đổ rót: đổ &#8220;hồ thừa&#8221; hay &#8220;hồ đầy&#8221; để tạo dáng sản phẩm.</p>
<h4>4. <span id="Phơi_sấy_và_sửa_hàng_mộc" class="mw-headline">Phơi sấy và sửa hàng mộc:</span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Tiến hành phơi sản phẩm mộc sao cho khô, không bị nứt nẻ, không làm thay đổi hình dáng của sản phẩm. Biện pháp tối ưu mà xưa nay người Bát Tràng vẫn thường sử dụng là hong khô hiện vật trên giá và để nơi thoáng mát. Ngày nay phần nhiều các gia đình sử dụng biện pháp sấy hiện vật trong lò sấy, tăng nhiệt độ từ từ để cho nước bốc hơi dần dần.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Sản phẩm mộc đã định hình cần đem &#8220;ủ vóc&#8221; và sửa lại cho hoàn chỉnh. Người thợ gốm đặt sản phẩm vào mà trên bàn xoay nhẹ đà rồi vừa xoay bàn xoay vừa đẩy nhẹ vào chân vóc cho cân, dùng dùi vỗ nhẹ vào chân &#8220;vóc&#8221; cho đất ở chân &#8220;vóc&#8221; chặt lại và sản phẩm tròn trở lại (gọi là &#8220;lùa&#8221;). Người thợ gốm tiến hành các động tác cắt, gọt chỗ thừa, bồi đắp chỗ khuyết, chắp các bộ phận của sản phẩm (như vòi ấm, quai tách&#8230;), khoan lỗ trên các sản phẩm, tỉa lại đường nét hoa văn và thuật nước cho mịn mặt sản phẩm. Những sản phẩm sửa lại mà không dùng bàn xoay thì gọi là &#8220;làm hàng bộ&#8221;, phải dùng bàn xoay thì gọi là &#8220;làm hàng bàn&#8221;.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Theo yêu cầu trang trí, có thể đắp thêm đất vào một vài vùng nào đó trên sản phẩm rồi cắt tỉa để tạo hình (đắp phù điêu), có khi phải khắc sâu các hoạ tiết trang trí trên mặt sản phẩm&#8230;</p>
<h3><span id="Quá_trình_trang_trí_hoa_văn_và_phủ_men" class="mw-headline">B. Quá trình trang trí hoa văn và phủ men lên Gốm Bát Tràng</span></h3>
<h4>1. <span id="Kỹ_thuật_vẽ" class="mw-headline">Kỹ thuật vẽ: </span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Thợ gốm Bát Tràng dùng bút lông vẽ trực tiếp trên nền mộc các hoa văn hoạ tiết. Thợ vẽ gốm phải có tay nghề cao, hoa văn họa tiết phải hài hoà với dáng gốm, các trang trí hoạ tiết này đã nâng nghề gốm lên mức nghệ thuật, mỗi chiếc là một tác phẩm. Thợ gốm Bát Tràng cũng đã dùng rất nhiều hình thức trang trí khác, có hiệu quả nghệ thuật như đánh chỉ, bôi men chảy màu, vẽ men màu&#8230;</p>
<p style="padding-left: 40px;">Gần đây, Bát Tràng xuất hiện kĩ thuật vẽ trên nền xương gốm đã nung sơ lần 1 hoặc kĩ thuật <i>hấp hoa</i>, một lối trang trí hình in sẵn trên giấy decal, nhập từ nước ngoài. Hai kiểu này tuy đẹp nhưng không phải là truyền thống của Bát Tràng. Những loại này không được coi là nghệ thuật và sáng tạo trong di sản gốm Bát Tràng, cũng như gốm Việt Nam nói chung. Những sản phẩm này ra đời nhằm phục vụ nhu cầu của đại đa số người dân ở những vùng nông thôn. Nhằm mục đích hưởng ứng phong trào: &#8220;Người Việt Nam, ưu tiên dùng hàng Việt Nam&#8221;. Những dòng sản phẩm này có ưu điểm là rất bắt mắt và giá thành cũng thấp hơn phương pháp vẽ tay truyền thống.</p>
<h4>2. <span id="Chế_tạo_men" class="mw-headline">Chế tạo men: </span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Men tro là men đặc sắc của gốm Bát Tràng, ngoài ra còn có men màu nâu, thành phần loại men này bao gồm men tro cộng thêm 5% đá thối (hỗn hợp ôxít sắt và ôxít mangan lấy ở Phù Lãng, Hà Bắc). Từ thế kỉ 15 thợ gốm Bát Tràng đã từng chế tạo ra loại men lam nổi tiếng. Loại men này được chế từ đá đỏ (có chứa ôxít côban) đá thối (chứa ôxít mangan) nghiền nhỏ rồi trộn với men áo. Men lam phát màu ở nhiệt độ 1250 °C. Đầu thế kỉ 17 người Bát Tràng dùng vôi sống, tro trấu và cao lanh chùa Hội (thuộc Bích Nhôi, Kinh Môn, Hải Dương) có màu hồng nhạt điều chế thành một loại men mới là men rạn.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Thợ gốm Bát Tràng thường quen sử dụng cách chế tạo men theo phương pháp ướt bằng cách cho nguyên liệu đã nghiền lọc kĩ trộn đều với nhau rồi khuấy tan trong nước đợi đến khi lắng xuống thì bỏ phần nước trong ở trên và bã đọng ở dưới đáy mà chỉ lấy các &#8220;dị&#8221; lơ lửng ở giữa, đó chính là lớp men bóng để phủ bên ngoài đồ vật. Trong quá trình chế tạo men người thợ gốm Bát Tràng nhận thấy để cho men dễ chảy hơn thì phải chế biến bột tro nhỏ hơn nhiều so với bột đất, vì thế mà có câu &#8220;nhỏ tro to đàn&#8221;.</p>
<h4>3. <span id="Tráng_men" class="mw-headline">Tráng men: </span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Khi sản phẩm mộc đã hoàn chỉnh, người thợ gốm có thể nung sơ bộ sản phẩm ở nhiệt độ thấp rồi sau đó mới đem tráng men hoặc dùng ngay sản phẩm mộc hoàn chỉnh đó trực tiếp tráng men lên trên rồi mới nung. Người thợ gốm Bát Tràng thường chọn phương pháp tráng men trực tiếp lên trên sản phẩm mộc hoàn chỉnh. Sản phẩm mộc trước khi đem tráng men phải được làm sạch bụi bằng chổi lông. Những sản phẩm mà xương gốm có màu trước khi tráng men phải có một lớp men lót để che bớt màu của xương gốm, đồng thời cũng phải tính toán tính năng của mỗi loại men định tráng lên từng loại xương gốm, nồng độ men, thời tiết và mức độ khó của xương gốm&#8230; Kĩ thuật tráng men có nhiều hình thức như phun men, dội men lên bề mặt cốt gốm cỡ lớn, nhúng men đối với loại gốm nhỏ nhưng thông dụng nhất là hình thức láng men ngoài sản phẩm, gọi là &#8220;kìm men&#8221;, và khó hơn cả là hình thức &#8220;quay men&#8221; và &#8220;đúc men&#8221;. Quay men là hình thức tráng men bên trong và bên ngoài sản phẩm cùng một lúc, còn đúc men thì chỉ tráng men trong lòng sản phẩm. Đây là những thủ pháp tráng men của thợ gốm Bát Tràng, vừa là kĩ thuật vừa là nghệ thuật, được bảo tồn qua nhiều thế hệ, thậm chí đã từng là bí quyết trong nghề nghiệp ở đây.</p>
<h4><span id="S.E1.BB.ADa_h.C3.A0ng_men"></span><span id="Sửa_hàng_men" class="mw-headline">4. Sửa hàng men:</span></h4>
<p style="padding-left: 40px;">Người thợ gốm tiến hành tu chỉnh lại sản phẩm lần cuối trước khi đưa vào lò nung. Trước hết phải xem kĩ từng sản phẩm một xem có chỗ nào khuyết men thì phải bôi quệt men vào các vị trí ấy. Sau đó họ tiến hành &#8220;cắt dò&#8221; tức cạo bỏ những chỗ dư thừa men, công việc này gọi là &#8220;sửa hàng men&#8221;.</p>
<h3>C. <span id="Quá_trình_nung" class="mw-headline">Quá trình nung Gốm Bát Tràng:</span></h3>
<p style="padding-left: 40px;">Khi công việc chuẩn bị hoàn tất thì đốt lò trở thành khâu quyết định sự thành công hay thất bại của một mẻ gốm. Vì thế giờ phút nhóm lò trở nên thiêng liêng trọng đại với người thợ gốm. Người thợ cả cao tuổi nhất thắp ba nén hương và thành kính cầu mong trời đất và thần lửa phù giúp. Việc làm chủ ngọn lửa theo nguyên tắc nâng dần nhiệt độ để lò đạt tới nhiệt độ cao nhất và khi gốm chín thì lại hạ nhiệt độ từ từ chính là bí quyết thành công của khâu đốt lò.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Trước đây người thợ gốm Bát Tràng chuyên sử dụng các loại lò như lò ếch (hay lò cóc), lò đàn và lò bầu để nung gốm, sau này, xuất hiện thêm nhiều loại lò nung khác, càng ngày càng hiện đại và đơn giản trong việc thao tác hơn.</p>
<h3>D. <span id="Lò_nung" class="mw-headline">Lò nung Gốm Bát Tràng:</span></h3>
<h4>1. Lò ếch:</h4>
<p style="padding-left: 40px;">Là kiểu lò gốm cổ nhất được sử dụng một cách phổ biến ở khắp mọi nơi, hiện nay mất hết dấu tích nhưng qua các nguồn tư liệu gián tiếp vẫn có thể hình dung được lò có hình dáng giống như một con ếch dài khoảng 7 mét, bề ngang chỗ rộng nhất khoảng 3-4 mét, cửa lò rộng khoảng 1,2 mét, cao 1 mét. Đáy lò phẳng nằm ngang, vòm lò cao khoảng từ 2 mét đến 2,7 mét. Bên hông lò có một cửa ngách rộng 1 mét, cao 1,2 mét phục vụ cho việc chồng lò và dỡ sản phẩm. Lò có 3 ống khói thẳng đứng cao 3-3,5 mét. Trong mỗi bầu lò người ta chia thành 5 khu vực xếp sản phẩm là: hàng dàn, hàng gáy, hàng giữa, hàng chuột chạy và hàng mặt.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Trong quá trình lâu dài sử dụng lò ếch, để khắc phục nhược điểm của lớp đất gia cố bên trong và sàn lò, người ta thay vào đó lớp gạch mộc và vữa ghép lại.</p>
<h4>2. Lò đàn:</h4>
<p style="padding-left: 40px;">Xuất hiện vào giữa thế kỉ 19. Lò đàn có bầu lò dài 9 mét, rộng 2,5 mét, cao 2,6 mét được chia thành 10 bích bằng nhau. Vị trí phân cách giữa các bích là hai nống (cột). Cửa lò rộng 0,9 mét, cao l mét. Bích thứ 10 gọi là bích đậu thông với buồng thu khói qua 3 cửa hẹp. Để giữ nhiệt, bích lò kéo dài và ôm lấy buồng thu khói. Lớp vách trong ghép gạch Bát Tràng, lớp vách ngoài xây bằng gạch dân dụng. Mặt dưới của cật lò gần như bằng phẳng còn mặt trên hình vòng khum. Hai bên cật lò từ bích thứ 2 đến bích thứ 9 người ta dấu mở hai cửa nhỏ hình tròn, đường kính 0,2 mét gọi là các lỗ giòi để ném nhiên liệu vào trong bích. Riêng bích đậu người ta mở lỗ đậu (lỗ giòi rộng hơn nửa mét). Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300 °C.</p>
<h4>3. Lò bầu, hay lò rồng:</h4>
<p style="padding-left: 40px;">Xuất hiện vào đầu thế kỉ 20. Lò bầu chia ra làm nhiều ngăn, thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò. Lò dài khoảng 13 mét cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 mét thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 mét. Độ nghiêng của trục lò khoảng 12-15⁰. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300 °C.</p>
<h4>4. Lò hộp hay lò đứng:</h4>
<p style="padding-left: 40px;">Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợi cho quy mô gia đình. Vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250 °C.</p>
<h4>5. Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục):</h4>
<p style="padding-left: 40px;">Trong những năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi, hoặc lò tuynen, với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng.</p>
<h3>E. <span id="Bao_nung" class="mw-headline">Bao nung:</span></h3>
<p style="padding-left: 40px;">Trước đây, các lò gốm Bát Tràng dùng một loại gạch vuông ghép lại làm bao nung. Loại gạch này sau hai ba lần sử dụng trong lò đạt đến độ lửa cao và cứng gần như sành (đó chính là gạch Bát Tràng nổi tiếng).</p>
<p style="padding-left: 40px;">Gần đây bao nung thường được làm bằng đất sét chịu lửa có màu xám sẫm trộn đều với bột gạch hoặc bao nung hỏng nghiền nhỏ (gọi là sa mốt) với tỉ lệ 25–35% đất sét và 65–75% sa mốt. Người ta dùng một lượng nước vừa đủ để trộn đều và đánh nhuyễn chất hỗn hợp này rồi đem in (dập) thành bao nung hay đóng thành gạch ghép ruột lò. Bao nung thường hình trụ để cho lửa có điều kiện tiếp xúc đều với sản phẩm. Tuỳ theo sản phẩm mà bao nung có kích thước không giống nhau nhưng phổ biến hơn cả là loại có đường kính từ 15 đến 30 cm, dày 2–5 cm và cao từ 5 đến 40 cm. Một bao nung có thể dùng từ 15 đến 20 lần.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Nếu sản phẩm được đốt trong lò con thoi hoặc lò tuynen, thường không cần dùng bao nung.</p>
<h3>F. <span id="Nhiên_liệu" class="mw-headline">Nhiên liệu để nung Gốm Bát Tràng: </span></h3>
<p style="padding-left: 40px;">Đối với loại lò ếch có thể dùng các loại rơm, rạ, tre, nứa để đốt lò, sau đó Bát Tràng dùng kết hợp rơm rạ với các loại &#8220;củi phác&#8221; và &#8220;củi bửa&#8221; và sau nữa thì củi phác và củi bửa dần trở thành nguồn nhiên liệu chính cho các loại lò gốm ở Bát Tràng. Củi bửa và củi phác sau khi đã bổ được xếp thành đống ngoài trời, phơi sương nắng cho ải ra rồi mới đem sử dụng. Đối với loại lò đàn, tại bầu, người ta đốt củi phác còn củi bửa được dùng để đưa qua các lỗ giòi, lỗ đậu vào trong lò.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Khi chuyển sang sử dụng lò đứng, nguồn nhiên liệu chính là than cám còn củi chỉ để gầy lò. Than cám đem nhào trộn kĩ với đất bùn theo tỷ lệ nhất định có thể đóng thành khuôn hay nặn thành bánh nhỏ phơi khô. Nhiều khi người ta nặn than ướt rồi đập lên tường khô để tường hút nước nhanh và than chóng kết cứng lại và có thể dùng được ngay.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Hiện nay để bảo vệ môi trường cũng như thuận tiện trong quá tình làm việc, cũng như tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đẹp. Nhiên liệu được sử dụng là những loại khí đốt hóa lỏng.</p>
<h3>G. <span id="Chồng_lò" class="mw-headline">Chồng lò:</span></h3>
<p style="padding-left: 40px;">Sản phẩm mộc sau quá trình gia công hoàn chỉnh được đem vào lò nung. Việc xếp sản phẩm trong lò nung như thế nào là tuỳ theo sản phẩm và hình dáng kích, cỡ của bao nung trên nguyên tắc vừa sử dụng triệt để không gian trong lò vừa tiết kiệm được nhiên liệu mà lại đạt hiệu nhiệt cao. Bởi cấu tạo của mỗi loại lò khác nhau nên việc chồng lò theo từng loại lò cũng có những đặc điểm riêng. Đối với loại lò ếch, người ta xếp sản phẩm từ gáy lò ra tới cửa lò, còn đối với loại lò đàn thì người ta xếp sản phẩm từ bích thứ 2 đến bích thứ 10 (riêng bích thứ 10 vì lửa kém nên sản phẩm thường để trần không cần có bao nung ở ngoài). Ở bầu cũi lợn (bầu đầu tiên) nơi dành để đốt nhiên liệu, có nhiệt độ cao nên đôi khi người ta xếp các loại sản phẩm trong các bao ngoại cỡ. Sản phẩm được xếp trong lò bầu giống như lò đàn. Riêng đối với lò hộp, tất cả các sản phẩm đều được đặt trong các bao nung hình trụ không đậy nắp và xếp chồng cao dần từ đáy lên nóc, xung quanh tường lò và chỗ khoảng trống giữa các bao nung đều được chèn các viên than.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Làng Bát Tràng xưa có các phường Chồng Lò, mỗi phường thường gồm 7 người (3 thợ cả, 3 thợ đệm và 1 thợ học việc). Họ chia thành 3 nhóm trong đó mỗi nhóm có 1 thợ cả và 1 thợ đệm, còn thợ học việc có nhiệm vụ bưng bao nung và sản phẩm mộc phục vụ cho cả ba nhóm trên. Nhóm thứ nhất có nhiệm vụ chồng đáy (xếp bao nung và sản phẩm ba lớp từ đáy lên), nhóm thứ hai có nhiệm vụ chồng giữa (xếp ba lớp giữa), còn nhóm thứ ba là nhóm gọi mặt (xếp ba lớp cuối cùng ở vị trí cao nhất trong lò). Phường Chồng Lò ở Bát Tràng chủ yếu tập hợp những người thợ gốm ở Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Tây) và Vân Đình (Mỹ Đức, Hà Tây) chuyên phục vụ chơ các lò gốm Bát Tràng.</p>
<h3><span id=".C4.90.E1.BB.91t_l.C3.B2"></span><span id="Đốt_lò" class="mw-headline">H. Đốt lò:</span></h3>
<p style="padding-left: 40px;">Nhìn chung đối với các loại lò ếch, lò đàn, lò bầu thì quy trình đốt lò đều tương tự nhau và với kinh nghiệm của mình, người &#8220;thợ cả&#8221; có thể làm chủ được ngọn lửa trong toàn bộ quá trình đốt lò. Ở lò đàn khoảng một nửa ngày kể từ khi nhóm lửa người ta đốt nhỏ lửa tại bầu cũi lợn để sấy lò và sản phẩm trong lò. Sau đó người ta tăng dần lửa ở bầu cũi lợn cho đến khi lửa đỏ lan tới bích thứ tư thì việc tiếp củi ở các bầu cũi lợn được dừng lại. Tiếp tục ném củi bửa qua các lỗ giòi. Người xuất cả bằng kinh nghiệm của mình kiểm tra kỹ các bích và ra lệnh ngừng ném củi bửa vào bích nào khi biết sản phẩm ở bích đó đã chín. Càng về cuối sản phẩm chín càng nhanh. Khi sản phẩm trong bích đậu đã sắp chín thì người thợ cả quyết định ném dồn dập trong vòng nửa tiếng khoảng 9-10 bó củi bửa qua lỗ đậu rồi kết thúc việc tiếp củi. Trong phường đốt lò, người phường trưởng (xuất cả) phụ trách chung về kỹ thuật, hai người thợ đốt ở cửa lò (đốt dưới), bốn người chuyên ném củi bửa qua các lỗ giòi (đốt trên).</p>
<p style="padding-left: 40px;">Sau khi nung xong người ta bịt hết các cửa lò, lỗ giòi, lỗ xem lửa để làm nguội từ từ. Quá trình làm nguội trong lò kéo dài 2 ngày 2 đêm, sau đó mới mở cửa lò và để tiếp 1 ngày 1 đêm nữa rồi mới tiến hành ra lò.</p>
<p style="padding-left: 40px;">Đối với lò đứng, việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều vì khi hoàn tất khâu chồng lò cũng có nghĩa là đã kết thúc việc nạp nhiên liệu. Thế nhưng do đặc điểm của lò, người thợ đốt lò dù có dày dạn kinh nghiệm cũng rất khó có thể làm chủ được ngọn lửa, đây thực sự là vấn ra khó khăn nhất trong khâu kĩ thuật ở làng Bát Tràng. Người ta dùng gạch chịu lửa bịt cửa lò lại rồi nhóm lò bằng củi. Lửa cháy bén vào than và bốc từ dưới lên. Than trong lò cháy hết cũng là lúc kết thúc công việc đốt lò. Thời gian đốt lò kể từ lúc nhóm lửa đến khi hoàn toàn tắt lửa kéo dài khoảng 3 ngày 3 đêm. Sau khi lò nguội, sản phẩm ra lò được đánh giá phân loại và sửa chữa lại các khuyết tật (nếu có thể được) trước khi đem ra phân phối sử dụng.</p>
<p>Toàn bộ quy trình làm Gốm được diễn ra theo đúng trình tự, từng khâu, từng khâu phải thật cẩn thận, chu đáo. Tạo nên được những sản phẩm bóng mịn, sạch, đẹp với những hoa văn tinh tế, hài hòa. Làm nên chất lượng, thương hiệu của sản phẩm Gốm Bát Tràng.</p>
<p style="text-align: right;">Bát Tràng Mall</p>
<p style="text-align: right;"><em><span style="font-size: 90%;">Sưu tầm &amp; biên soạn</span></em></p>
<h4></h4>
<p>&nbsp;</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn/gom-bat-trang-quy-trinh-tao-nen-nghe-thuat/">Gốm Bát Tràng &#8211; Quy trình tạo nên nghệ thuật.</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn">Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lịch sử Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng</title>
		<link>https://gomthienviet.vn/lich-su-lang-gom-co-truyen-bat-trang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Gốm Thiên Việt]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 04 Oct 2019 16:38:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Bát Tràng]]></category>
		<category><![CDATA[Làng Bát Tràng]]></category>
		<category><![CDATA[Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://battrangmall.vn/?p=10368</guid>

					<description><![CDATA[<p>Bát Tràng là một Làng Gốm Sứ có lịch sử lâu đời và nổi tiếng bậc nhất ở nước ta. Lịch sử làng Gốm cũng có nhiều thăng trầm cùng sự phát triển của đất nước. Trải qua thời gian Lịch sử làng gốm vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa cổ xưa của một làng nghề tiêu biểu. 1. Mấy nét về Làng Gốm Bát Tràng xưa</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn/lich-su-lang-gom-co-truyen-bat-trang/">Lịch sử Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn">Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3 class="newsdetail-brief"><a href="https://gomthienviet.vn">Bát Tràng</a> là một Làng <a href="https://gomthienviet.vn">Gốm Sứ</a> có lịch sử lâu đời và nổi tiếng bậc nhất ở nước ta. Lịch sử làng Gốm cũng có nhiều thăng trầm cùng sự phát triển của đất nước. Trải qua thời gian Lịch sử làng gốm vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa cổ xưa của một làng nghề tiêu biểu.</h3>
<div class="newsdetail-description clrfix">
<h4><strong><em>1. Mấy nét về Làng Gốm Bát Tràng xưa và nay</em></strong></h4>
<p>Theo các thư tịch cổ, nghề Gốm Bát Tràng xuất hiện từ thế kỷ XV dưới thời Trần. Sách Đại Việt sử ký toàn thư của nhà sử học Ngô Sĩ Liên ghi: Bát Tràng có tên là Xã Bát, Làng Bát từ đời nhà Trần. Như vậy, suốt hơn 500 năm nay, làng nghề này vẫn giữ tên là <a href="https://gomthienviet.vn">Bát Tràng</a>. Trong lịch sử làng gốm, những loại gốm quý, độc đáo của nước ta, nổi tiếng cả trong và ngoài nước như <a href="https://gomthienviet.vn/bat-huong-rong-mau-lam-men-ngoc/">Gốm</a> men ngọc (thời Lý, Trần), Gốm hoa nâu hay Gốm men nâu (cuối thời Trần &#8211; đầu thời Lê), Gốm men rạn (thời Lê &#8211; Trịnh) và Gốm hoa lam (cuối thời Lê &#8211; thời Nguyễn) đều đã được sản xuất ở Bát Tràng.</p>
<p>Từ cuối thời Trần đến thời Lê và đầu thời Nguyễn, một khối lượng lớn đồ Gốm các loại của Bát Tràng đã được xuất khẩu sang các nước trong khu vực như Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, một số nước châu Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp. Nhìn chung, đồ <a href="https://gomthienviet.vn">Gốm Bát Tràng</a> là một trong những mặt hàng được người nước ngoài ưa chuộng.</p>
<p>Bước vào thời kỳ đổi mới (1986 đến nay), trong cơ chế thị trường, nghề Gốm của Bát Tràng không chỉ tạo công ăn việc làm trong xã, mà còn thu hút hàng nghìn lao động làm thuê từ các tỉnh khác đến, như Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh&#8230; Những năm gần đây, xuất khẩu của Làng Gốm Bát Tràng đạt nhiều chục triệu USD hàng năm. Hiện nay, Bát Tràng có hơn 200 công ty, xí nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ Gốm.</p>
<p>Thời gian qua, nhiều khách trong và ngoài nước đến Làng Gốm Bát Tràng tham quan, tìm hiểu cách thức chế tác các sản phẩm Gốm. Với nhiều khách du lịch, đó là cơ hội để có được những món đồ lưu niệm mang nhiều ý nghĩa kinh tế &#8211; văn hóa của một Làng nghề truyền thống. Với doanh nhân, họ có thể tìm thấy ở đây những cơ hội đầu tư kinh doanh.</p>
<p><strong><em> 2. “Ôn cố tri tân” từ việc nghiên cứu Làng Gốm Bát Tràng xưa và nay</em></strong></p>
<p>Nghiên cứu Làng nghề Bát Tràng truyền thống không chỉ góp phần dựng lại diện mạo kinh tế Thăng Long &#8211; Hà Nội trong lịch sử mà còn giúp người dân Thủ đô và cả nước thấy được sự phát triển của lịch sự làng gốm cổ bậc nhất Việt Nam . Mặt khác, chính sự đa dạng của các sản phẩm văn hóa vật thể từ Làng Gốm Bát Tràng qua giao lưu kinh tế, yếu tố văn hóa đã lan toả góp phần tạo nên sức sống tinh thần của cả dân tộc, in đậm bản sắc văn hóa của Thăng Long &#8211; Hà Nội. Điều đó có ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc, cũng là niềm tự hào của người dân Hà Nội về truyền thống lịch sử làng gốm và lịch sử của mảnh đất &#8220;Cửu Long&#8221; nghìn năm văn hiến.</p>
<p>Nghiên cứu về lịch sử Làng Gốm Bát Tràng cần làm rõ nghề thủ công truyền thống tự nó đã bao hàm hai yếu tố cơ bản: truyền thống văn hóa và truyền thống nghề nghiệp. Những sản phẩm Gốm được sản xuất ra đã mang tính cá biệt về phong cách của mỗi nghệ nhân và nét đặc trưng văn hóa của mỗi làng nghề, hay nói cách khác, yếu tố văn hóa tinh thần đã kết tinh trong văn hóa vật thể.</p>
<p>Bàn tay tài khéo của thợ Gốm Bát Tràng đã tạo ra những sản phẩm: Lộc bình, Thống, Chóe, Bình Hút Lộc, Đồ thờ cúng, Bát đĩa, Ấm chén&#8230; bằng Gốm men ngọc, men rạn, men hoa lam&#8230; độc đáo. Những sản phẩm này được tạo dáng và trang trí với những con rồng, những hoa văn đắp nổi, khắc chìm hoặc trổ thủng thật tinh tế với đa dạng những mầu sắc khác nhau.</p>
<p>Men sử dụng trong chế tác các sản phẩm Gốm có: Men trắng, men kem, men xanh ngọc luc bảo, men rạn, men hỏa biến, men Lam&#8230; Trong chế tác, những nghệ nhân đã vẽ màu dưới men, giữa men, trên men nhằm tạo nên những sản phẩm độc đáo về màu sắc. Việc tìm đất, chọn nguồn đất nguyên liệu thích hợp, tạo các loại men từ tro, đất phù sa, đá màu, rỉ đồng, rỉ sắt, cùng sự cải tiến kỹ thuật lò nung đã thể hiện tài năng của những nghệ nhân, thợ gốm ở Làng Gốm Bát Tràng qua nhiều thế hệ.</p>
<p>Sản phẩm của nghề Gốm truyền thống được tạo ra bởi các bí quyết sản xuất, đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, được truyền từ đời này sang đời khác. Thực tế cho thấy, những sản phẩm Gốm không chỉ là những vật phẩm kinh tế hay vật phẩm phục vụ cho sinh hoạt đời sống thường ngày của dân cư, nó còn là những sản phẩm mỹ nghệ, biểu hiện cho sự phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm văn hóa của dân tộc.</p>
<p>Sản phẩm của Làng Gốm Bát Tràng là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Các sản phẩm đó mang tính chất cá biệt, có sắc thái riêng, đặc trưng riêng của Làng nghề, phản ánh được quan niệm thẩm mỹ, bản sắc văn hóa của người dân Bát Tràng. Trong lịch sử làng gốm cũng ghi nhận rất nhiều những sản phẩm đặc sắc, có tính sáng tạo, tính thẩm mỹ, nghệ thuật tiêu biểu cho cả một thế hệ.</p>
<p>Những sản phẩm đó đã được thử thách qua thời gian, được chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển cùng với sự bổ sung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau đó. Thực tế, sản phẩm gốm thủ công nhiều khi lại khác hẳn bản mẫu. Người thợ giỏi, đặc biệt là nghệ nhân có thể tự do sáng tạo ngay trong quá trình tạo tác sản phẩm.</p>
<p>Nghệ nhân, thợ cả ở đây vừa đóng vai trò là người quản lý, chỉ đạo sản xuất, vừa là người trực tiếp làm ra sản phẩm. Giá trị của mỗi sản phẩm Gốm thủ công được khách hàng nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ văn hóa, nghệ thuật. Các sản phẩm đó vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao.</p>
<p>Ở Làng Gốm Bát Tràng, trong sản xuất hầu hết đều sử dụng kỹ thuật truyền thống lâu đời với kỹ thuật sản xuất riêng, bao gồm nhiều công đoạn từ khai thác, chế biến nguyên liệu đến hoàn chỉnh sản phẩm để bán ra thị trường cho người tiêu dùng.</p>
<p>Người thợ thủ công sản xuất hàng thủ công, trước hết từ mục đích kinh tế cho nên sản phẩm thủ công truyền thống tự thân đã là hàng hóa, nhưng bên cạnh đó, nó còn hội tụ những yếu tố nghệ thuật.</p>
<p>Từ Làng Gốm Bát Tràng cho thấy, tuy đều sử dụng kỹ thuật chung của nghề nhưng từng công đoạn kỹ thuật thì mỗi người, mỗi nhà một khác. Thực tế, Làng nghề nào cũng biết cách ứng dụng kỹ thuật chung ấy theo phương pháp riêng của mình. Riêng thủ pháp nghệ thuật thì còn đa dạng hơn nữa, nó tùy theo trình độ sáng tạo và kinh nghiệm của từng Nghệ Nhân.</p>
<p>Điều đó giải thích tại sao Làng nghề này không thay thế được làng nghề kia, hay mỗi Nghệ Nhân có những nét độc đáo riêng cho dù ở làng nghề đó, những Nghệ Nhân cùng làm một nghề, cùng chế tác một loại sản phẩm. Kinh nghiệm trong sản xuất, đặc biệt trong kỹ thuật và thủ pháp nghệ thuật của mỗi gia đình, dòng họ, của mỗi làng nghề thường nằm trong tay những nghệ nhân, những thợ cả được truyền từ đời trước sang đời sau.</p>
<p>Khi đất nước bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tính kế thừa, tính liên tục, tính phát triển sẽ đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết với quy trình sản xuất Gốm ở Bát Tràng. Thực tế, trước khi có nền sản xuất cơ khí hóa và tự động hóa thì mọi sản phẩm được tạo ra bởi óc sáng tạo, bởi bàn tay của những thế hệ thợ thủ công với các loại công cụ lao động thô sơ.</p>
<p>Có thể cho rằng, khi đó mọi giá trị vật chất và tinh thần đều được hội tụ ở các sản phẩm thủ công. Đến thời hiện đại, máy móc đã thay thế phần lớn sức lao động của con người song sản xuất thủ công cũng không mất đi, chúng tồn tại song song với công nghệ và sản phẩm hiện đại.</p>
<p>Ngày nay, với công nghệ hiện đại, với sự trợ giúp của máy móc, thiết bị hiện đại, sản xuất truyền thống càng có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh hơn. Nghề thủ công với những sản phẩm tinh xảo và “bàn tay vàng” của các Nghệ Nhân, của những người thợ thủ công vẫn có chỗ đứng, có vai trò quan trọng trong xã hội.</p>
<p>Do vậy, với các Làng nghề truyền thống, cần chú ý bảo tồn một số công nghệ cổ truyền tinh xảo, độc đáo; đồng thời tập trung đổi mới phát triển công nghệ tiên tiến, hiện đại phù hợp với đặc điểm sản xuất của các Làng nghề.</p>
<p>Nhìn chung, vai trò của Nghệ Nhân, thợ thủ công lành nghề đối với nghề và Làng nghề là rất lớn. Không có Nghệ Nhân thì không có Làng nghề, hay ít nhất cũng không có Làng nghề nổi tiếng. Chính tài năng của những người thợ &#8211; nghệ nhân với những đôi “bàn tay vàng” của họ đã tạo nên những sản phẩm quý giá, tinh xảo, những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài, tiêu biểu cho những nét độc đáo của Làng nghề địa phương và của cả dân tộc. Chính những người thợ &#8211; Nghệ Nhân đã giữ cho Làng nghề tồn tại và phát triển.</p>
<p>Vì vậy, cần có chính sách tôn vinh Nghệ Nhân, Doanh Nhân và những người thợ tài năng. Trong bảo tồn, phát triển các Làng nghề truyền thống ở nước ta hiện nay, việc khuyến khích những Nghệ Nhân, những người thợ tài năng dạy nghề, truyền nghề cho các thế hệ sau nhằm tiếp tục nuôi dưỡng ngành nghề truyền thống, góp phần tạo thêm những sản phẩm mới ngày càng đa dạng đáp ứng yêu cầu tiêu dùng xã hội và xuất khẩu cũng là một cách thức tôn vinh những con người tài hoa ấy.</p>
<p>Đối với Doanh Nhân, về mặt xã hội, không thể nhìn nhận hoạt động của họ đơn thuần chỉ vì mục đích lợi nhuận, mà cần thấy ở đây lòng yêu nước, tính cộng đồng của tầng lớp Doanh Nhân mới. Do vậy, cần tạo môi trường an toàn, thuận lợi cho Doanh Nhân và Doanh nghiệp có điều kiện phát triển.</p>
<p>Các Doanh Nhân phải được tôn trọng, phải được đảm bảo những quyền cơ bản như hiến pháp đã quy định với doanh nghiệp và công dân để họ có thể phát huy tài năng, đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Những lợi ích chính đáng của họ phải được Nhà nước bảo vệ, cống hiến của họ phải được xã hội tôn vinh.</p>
<p>Thực tế, cần có pháp lý cụ thể để tạo lập môi trường kinh doanh cho Doanh nghiệp, phải đảm bảo bốn yêu cầu. Đó là, phải nhất quán về quan điểm, chủ trương; phải đồng bộ giữa các khâu, các ngành quản lý nhà nước; phải ổn định trong thời gian dài để Doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kinh doanh; phải được cơ quan chức năng thi hành đúng đắn. Đó là cơ hội cho những Doanh Nhân tự khẳng định được mình và không ngừng vươn lên trong thương trường.</p>
<p>Trong sự phát triển của Làng Gốm Bát Tràng, Chợ Làng xa xưa có ý nghĩa tích cực với đời sống Làng, khi sản xuất hàng hóa phát triển nó sẽ phá vỡ tính biệt lập, khép kín về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng Làng Xã, tạo điều kiện cho sự giao lưu kinh tế, văn hóa của làng nghề với các vùng khác. Chợ là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế và còn phản ánh cả yếu tố văn hóa &#8211; xã hội.</p>
<p>Thực tế cho thấy, việc tìm hiểu Chợ quê đã được nhiều nhà xã hội học, khách du lịch cả trong và ngoài nước tiếp cận tìm hiểu ở nhiều khía cạnh như, tập trung vào việc tìm hiểu nguồn gốc xã hội của Chợ quê; cấu trúc xã hội của các quan hệ thương mại, hành vi ứng xử của chủ thể kinh tế tại Chợ quê; tìm hiểu những kiểu, mô hình hành vi kinh tế khác nhau trước tác động của những yếu tố can thiệp (giá trị xã hội, chuẩn mực, thể chế, tập quán, tâm lý xã hội&#8230;). Đặc biệt là sự vận động xu hướng phát triển của Chợ đối với sự phát triển của các Làng nghề truyền thống gắn với việc điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế trong hoạt động cộng đồng.</p>
<p>Những năm gần đây, ở Bát Tràng và một số Làng nghề truyền thống, Chợ làng đã phát triển thành những trung tâm thương mại &#8211; dịch vụ. Đó là kết quả của quá trình tự vận động dựa vào nội lực của cộng đồng và khi chính sách của Nhà nước hướng đến quá trình mở cửa nền kinh tế và phát triển thị trường nông thôn.</p>
<p>Trong quá trình ấy, thương nhân và các chủ sản xuất đã nắm bắt được những cơ hội để mở rộng hoạt động kinh doanh. Quá trình tham gia vào những quan hệ thị trường đã giúp cả thương nhân và người sản xuất đều hướng tới hành vi sản xuất kinh doanh hàng hóa theo nhu cầu thị trường. Thị trường mở cửa, cùng với những luồng hàng hóa là những cá nhân hay nhóm kinh doanh bên ngoài xâm nhập vào Chợ Quê, Chợ Làng.</p>
<p>Hàng hóa tại Chợ giờ đây là sản phẩm của khắp mọi Làng Xã trong vùng, trong cả nước, hàng ngoại nhập&#8230; Điều đó đã dẫn đến sự cạnh tranh trên thương trường ngày càng gay gắt. Nhưng điều đó cũng chỉ dẫn cho cả người sản xuất và người buôn bán tiến hành đổi mới, cải tiến, phát triển và khai thác những sản phẩm mang đặc trưng của địa phương cung cấp cho thị trường bên ngoài, chủ động mở rộng quan hệ kinh doanh, khai thác những mặt hàng mới, có giá trị, hợp thị hiếu của người dân.</p>
<p>Làng Gốm Bát Tràng còn là môi trường văn hóa &#8211; kinh tế &#8211; xã hội có truyền thống lâu đời. Vì vậy, yếu tố văn hóa đậm nét của những sản phẩm Gốm thủ công truyền thống đã tạo nên vị trí quan trọng của các sản phẩm này trên thị trường và trong giao lưu kinh tế quốc tế.</p>
<p>Nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật được truyền từ đời này sang đời khác, hội tụ kinh nghiệm ở những thế hệ Nghệ Nhân tài năng với các sản phẩm mang bản sắc riêng của mình nhưng vẫn đậm tính tiêu biểu và độc đáo của dân tộc. Môi trường văn hóa Làng nghề truyền thống với khung cảnh làng quê có cây đa, bến nước, con đò, có đình, chùa, miếu, mạo&#8230; cùng các hoạt động lễ hội, những phong tục tập quán, nếp sống mang đậm màu sắc dân gian đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của truyền thống văn hóa Làng quê Việt Nam.</p>
<p>Tất cả những cái đó đã tạo ra không gian văn hóa thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ những nhà nghiên cứu văn hóa, khách tham quan du lịch đến các thương gia trong nước và quốc tế.</p>
<p>Như vậy, Làng Gốm Bát Tràng còn ẩn chứa những tiềm năng du lịch rất lớn. Thực sự nó đã trở thành di sản văn hóa của dân tộc, hàm chứa những tiềm năng để mở mang phát triển du lịch và các hoạt động dịch vụ khác.</p>
<p>Do vậy, việc xem xét, đánh giá những tiềm năng du lịch của các Làng nghề truyền thống nói chung có ý nghĩa thực tiễn đối với sự tồn tại và phát triển của nó trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hiện nay.</p>
<p>Kinh nghiệm cho thấy, để khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch đối với các Làng nghề cần có những biện pháp tác động tích cực từ phía Nhà nước. Đó là việc tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế &#8211; xã hội của làng nghề; sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý; sự gắn kết các hoạt động thương mại, du lịch, sản xuất của Làng nghề đặt trong quá trình phát triển mang tính tổng thể của Hà Nội. Trong đó cần chú ý bảo lưu, phát huy nghề truyền thống gắn với những sắc thái văn hóa đa dạng của địa phương để tạo môi trường thuận lợi thu hút khách du lịch cả trong và ngoài nước.</p>
<p><em> Tóm lại,</em> trong thời kỳ đổi mới, Làng nghề truyền thống Bát Tràng có nhiều lợi thế để phát triển. Sự phát triển của Làng nghề sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng thêm thu nhập và tạo thêm nhiều việc làm mới làm thay đổi diện mạo kinh tế &#8211; xã hội nông thôn. Việc bảo tồn và phát triển Làng nghề sẽ tăng thêm sức mạnh cội nguồn, để mỗi người Việt Nam yêu quý, trân trọng, giữ gìn di sản, bản sắc văn hóa Việt Nam và còn làm tăng những giá trị văn hóa truyền thống của Thủ đô Hà Nội trong quá trình hội nhập quốc tế.</p>
<p style="text-align: right;"> Gốm Sứ Bát Tràng Mall sưu tầm</p>
</div>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn/lich-su-lang-gom-co-truyen-bat-trang/">Lịch sử Làng Gốm cổ truyền Bát Tràng</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://gomthienviet.vn">Công Ty Cổ Phần Gốm Thiên Việt</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
